Tiếng Anh |
Tiếng Pháp |
Tiếng
Đức
 |
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Diện tích: 331.211,6 km²
Dân số: 84.115,8 nghìn người (năm
2006)
Thủ đô: Hà Nội
|
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu
vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc
giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông
nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Bờ biển Việt
Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên
đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường
chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực
Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi
hẹp nhất 50km (Quảng Bình).
Kinh tuyến: 102º 08' - 109º 28' đông
Vĩ tuyến: 8º 02' - 23º 23' bắc
Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái
Bình Dương. |
----------------------------------------------------------------------------Khí
hậu------------------------------------------------------------------------------
-Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới
của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo.
Vị trí đó
đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung
bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa
với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không
khí trên dưới 80%. Số giờ nắng khoảng 1.500 - 2.000 giờ, nhiệt
bức xạ trung bình năm 100kcal/cm².
-Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên
nhiên Việt Nam thay đổi. Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng
mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa. Trên nền nhiệt
độ chung đó, khí hậu của các tỉnh phía bắc (từ đèo Hải Vân
trở ra Bắc) thay đổi theo bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
-Việt Nam chịu sự tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt
độ trung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác
cùng vĩ độ ở Châu Á. So với các nước này, Việt Nam nhiệt độ
về mùa đông lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơn.
- Do ảnh hưởng gió mùa, hơn nữa sự phức tạp về địa hình nên
khí hậu của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, từ giữa
năm này với năm khác và giữa nơi này với nơi khác (từ Bắc
xuống Nam và từ thấp lên cao).
Hà Nội
-Hà
Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa khô từ tháng 10
năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không
mưa to. Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là
tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm
trồi nẩy lộc. Từ tháng năm đến tháng 9 là mùa nóng có mưa
to và bão. Trong tháng 8, 9, 10, Hà Nội có những ngày thu.
Mùa thu Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày cuối thu
se se lạnh và chóng hoà nhập vào mùa đông.
- Nhiệt độ trung bình mùa đông: 17,2ºC (lúc thấp xuống tới
2,7ºC). Trung bình mùa hạ: 29,2ºC (lúc cao nhất lên tới 39ºC).
Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,2ºC, lượng mưa trung bình hàng
năm: 1.800mm.
Hải Phòng
Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
bình 23ºC – 24ºC, lượng mưa hàng năm từ 1.600 đến 1.800mm,
quanh năm thời tiết ấm áp, bốn mùa cây trái xanh tươi.
Quảng Ninh
Nhiệt độ trung bình cả năm 25ºC. Quảng Ninh có rừng có biển,
nhiều hải sản quý.
Thừa Thiên-Huế
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên thời tiết
diễn ra theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẻ, ấm áp, mùa hè
nóng bức, mùa thu dịu dàng và mùa đông gió rét. Nhiệt độ trung
bình cả năm 25ºC. Số giờ nắng cả năm là 2.000 giờ. Mùa du
lịch đẹp nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Đà Nẵng
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa
và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm từ 28ºC - 29ºC, bão thường
đổ bộ trực tiếp vào thành phố các tháng 9, 10 hàng năm.
Khánh Hòa
Khí hậu Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới
gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương
đối ôn hoà. Nhiệt độ trung bình năm là 26,5ºC. Lượng mưa trung
bình hàng năm trên 1.200mm
Lâm Đồng
Các nhà khí hậu học gọi Đà Lạt là "Thành phố của mùa
xuân", vì nhiệt độ trung bình cao nhất trong ngày 24ºC
và nhiệt độ trung bình thấp nhất trong ngày 15ºC. Lượng mùa
trung bình năm 1.755mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm
sau. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Có nắng trong tất cả
các mùa. Nhờ khí hậu đó cả thành phố Đà Lạt như một vườn hoa
trăm hương ngàn sắc quanh năm.
Bà Rịa - Vũng Tàu
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt
độ trung bình hàng năm 27ºC, ít gió bão, nhiều ánh nắng.
Thành phố Hồ Chí Minh
Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng
mưa trung bình năm 1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau. Nhiệt độ trung bình cả năm 27,5ºC, không có mùa
đông. Hoạt động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng.
<về đầu trang>
-----------------------------------------------------------------------------Địa
hình----------------------------------------------------------------------------
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng
chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi
và có bờ biển dài.
Phần đất liền (Bốn
vùng núi chính)
Vùng núi Đông
Bắc (còn gọi là Việt
Bắc)
Kéo
dài từ thung lũng sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ. Tại đây có nhiều
danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: động Tam Thanh, Nhị Thanh
(Lạng Sơn), hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể
(Bắc Kạn), núi Yên Tử, Vịnh Hạ Long - di sản thế giới (Quảng
Ninh). Đỉnh núi Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) với 2.431m, cao nhất
vùng Đông Bắc.
Vùng núi Tây Bắc
-Kéo dài từ biên giới phía bắc (giáp Trung Quốc) tới phía
tây tỉnh Thanh Hoá. Đây là vùng núi cao hùng vĩ có Sa Pa (Lào
Cai) ở độ cao 1.500m so với mặt biển - nơi nghỉ mát lý tưởng,
tập trung đông các tộc người H'Mông, Dao, Kinh, Tày, Giáy,
Hoa, Xá Phó...
-Vùng núi Tây Bắc còn có di tích chiến trường lừng danh Điện
Biên Phủ và đỉnh núi Phan Si Păng, cao 3.143m, cao nhất Đông
Dương.
Vùng núi Trường Sơn Bắc
Từ phía tây tỉnh Thanh Hóa đến vùng núi Quảng Nam - Đà Nẵng,
có vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản văn hóa thế giới
(Quảng Bình) và những đường đèo nổi tiếng như: đèo Ngang,
đèo Hải Vân... Đặc biệt, có đường mòn Hồ Chí Minh được thế
giới biết đến nhiều bởi những kỳ tích của người Việt Nam trong
cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ hai.
Vùng núi Trường Sơn Nam
Nằm ở phía tây các tỉnh Nam Trung Bộ. Sau những
khối núi đồ sộ là một vùng đất rộng lớn được gọi là Tây Nguyên
(cao nguyên phía tây). Vùng đất đầy huyền thoại này còn chứa
đựng nhiều điều bí ẩn về thực vật, động vật, nhất là nền văn
hóa đặc sắc của các bộ tộc ít người. Thành phố Đà Lạt - nơi
nghỉ mát lý tưởng được hình thành từ cuối thế kỷ 19.
Hai
đồng bằng lớn:

Đồng bằng sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ)
Rộng khoảng 15.000km² được bồi đắp bởi phù sa của hai con
sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Đây là địa bàn cư
trú của người Việt cổ và cũng là nơi hình thành nền văn minh
lúa nước.
Đồng Bằng sông Cửu Long (đồng bằng
Nam Bộ)
Rộng trên 40.000km², là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận
lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.
Vùng biển
-Việt
Nam có 3.260km bờ biển, nếu có dịp đi dọc theo bờ biển Việt
Nam du khách sẽ được đắm mình trong làn nước xanh của những
bãi biển đẹp như; Trà Cổ, Sầm Sơn, Lăng Cô, Non Nước, Nha
Trang, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên... Có nơi núi ăn lan ra biển
tạo nên một vẻ đẹp kỳ vĩ như: Vịnh Hạ Long, đã được UNESCO
công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
- Việt Nam có nhiều hải cảng lớn như: Hải Phòng, Đà
Nẵng, Qui Nhơn, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn,...
-Giữa vùng biển Việt Nam còn có hệ thống đảo và quần đảo gồm
hàng ngàn đảo lớn nhỏ nằm rải rác từ Bắc đến Nam, trong đó
có hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa.
<về đầu trang>
--------------------------------------------------------------------------Tài
nguyên--------------------------------------------------------------------------
Việt
Nam có nguồn tài nguyên phong phú như: tài nguyên rừng, tài
nguyên thủy hải sản, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản
và tài nguyên du lịch.
Tài nguyên rừng
-Rừng của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim,
sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu... Tính chung, các loài
thực vật bậc cao có tới 12.000 loài. Cây dược liệu có tới
1.500 loài. Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh chi, mộc nhĩ,
mật ong... Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000 loài
chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái, chưa kể các
loài côn trùng. Ngoài những loài động vật thường gặp như hươu,
nai, sơn dương, gấu, khỉ... còn có những loài quý hiếm như
tê giác, hổ, voi, bò rừng, sao la, công, trĩ, gà lôi đỏ...
-Rừng của Việt Nam hiện đang bị thu hẹp diện tích, nhất là
rừng nguyên sinh. Nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm đang
bị khai thác, săn bắn lén nên gỗ và chim thú ngày càng cạn
kiệt, nhiều loài thú quý đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Tài nguyên thuỷ hải sản
Diện
tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn là nguồn
tài nguyên phong phú về tôm, cá... trong đó có rất nhiều loài
quý hiếm. Chỉ tính riêng ở biển đã có 6.845 loài động vật,
trong đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua, 300 loài trai ốc,
75 loài tôm, 7 loài mực, 653 loài rong biển... Nhiều loài
cá thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao như cá chim, cá thu,
mực... Có những loài thân mềm ngon và quý như hải sâm, sò,
sò huyết, trai ngọc...
Biển Việt Nam cũng là tiềm năng khai thác muối phục vụ sinh
hoạt, công nghiệp và xuất khẩu.
Tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào hàng những quốc gia có nguồn nước dồi
dào. Diện tích mặt nước lớn và phân bố đều ở các vùng. Sông
suối, hồ đầm, kênh rạch, biển... chính là tiền đề cho việc
phát triển giao thông thuỷ; thuỷ điện; cung cấp nước cho trồng
trọt, sinh hoạt và đời sống...
Hệ thống suối nước nóng và nước khoáng, nước ngầm cũng rất
phong phú và phân bố khá đều trong cả nước
Tài nguyên khoáng sản
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng: than (trữ
lượng dự báo khoảng trên 6 tỉ tấn); dầu khí (ước trữ lượng
dầu mỏ khoảng 3-4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50-70 tỷ mét
khối); U-ra-ni (trữ lượng dự báo khoảng 200-300 nghìn tấn,
hàm lượng U3O8 trung bình là 0,1%); kim loại đen (sắt, măng
gan, titan); kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc, chì...);
khoáng sản phi kim loại (apatit, pyrit...).
Tài
nguyên du lịch
-Việt
Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi. Địa
hình có núi, có rừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có
cả cao nguyên. Núi non đã tạo nên những vùng cao có khí hậu
rất gần với ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá,
nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh như: Sa Pa (Lào
Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây
Ninh)...; động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hoá),
Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình)...;
thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thuỷ điện
Sông Đà (Hoà Bình - Sơn La), hồ thuỷ điện Trị An (Đồng Nai),
hồ thuỷ điện Yaly (Tây Nguyên), hồ Thác Bà (Yên Bái), vịnh
Hạ Long (Quảng Ninh, đã hai lần được UNESCO công nhận là di
sản của thế giới), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), đảo Phú Quốc
(Kiên Giang)... Với 3.260 km bờ biển có 125 bãi biển, trong
đó có 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng
Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ
An), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang
(Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)...
-Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di
tích (trong đó khoảng 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng
bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu ấn của quá trình dựng nước và
giữ nước, như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu... Đặc biệt quần
thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn
đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Hàng
nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác
phẩm nghệ thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa
phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch đầy hấp
dẫn.
-Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, độc đáo như thế,
mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc khai thác, những năm
gần đây ngành Du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu
khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần đáng kể cho nền
kinh tế quốc dân. Hơn thế, bằng tiềm năng và sản phẩm du lịch
của mình, ngành Du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bè bạn
khắp năm châu ngày càng hiểu biết và yêu mến đất nước Việt
Nam.
- Nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú như: suối khoáng
Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Định),
suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha
Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình)...
<về đầu trang> |